So sánh giá và nhiệt trị than đá, củi gỗ, củi ép mùn cưa

so-sanh-chi-phi-dot-lo-hoi

So sánh than đá, củi gỗ và củi ép mùn cưa cần dựa trên chi phí cho cùng một lượng nhiệt hữu ích hoặc cùng một tấn hơi thực tế. Giá thấp nhất mỗi kg chưa chắc rẻ nhất khi sử dụng; nhiệt trị cao nhất cũng chưa chắc là lựa chọn có lợi nhất cho nhà máy.

Bài này giúp anh chị đặt các báo giá lên cùng một mặt bằng để tự đối chiếu. Chúng tôi không kết luận trước rằng phải đổi nhiên liệu. NAN hiện không bán than; thông tin về than chỉ phục vụ tham khảo và so sánh.

Trước khi so giá: cần cùng đơn vị, điều kiện giao và cơ sở nhiệt trị

So một giá tại xưởng với một giá đã chở tới nhà máy là chưa công bằng. Tương tự, nhiệt trị mẫu khô không thể dùng trực tiếp cho số kg nhiên liệu ướt đã cân nhận.

  1. Cùng đơn vị: quy giá về đồng/kg và nhiệt trị về MJ/kg hoặc kcal/kg; không trộn hai hệ đơn vị trong một phép chia.
  2. Cùng điểm giao: làm rõ vận chuyển, dỡ hàng, khối lượng thanh toán và thời hạn báo giá. Khoản đã có trong giá không cộng lần nữa.
  3. Cùng cách xử lý thuế: tách rõ giá chưa thuế với số tiền phải thanh toán, và dùng nhất quán khi so sánh.
  4. Cùng cơ sở năng lượng: HHV hay LHV, trạng thái nhận được hay mẫu khô; kèm độ ẩm và phiếu thử đại diện lô.
  5. Cùng nhu cầu đầu ra: lượng hơi, chất lượng hơi, áp suất và điểm giao nhận cần tương đương.

Nguyên tắc đưa nhiên liệu về chung đơn vị năng lượng được giải thích trong hướng dẫn so sánh năng lượng của EIA. Các hệ số tham khảo quốc tế không tự trở thành kết quả chất lượng của lô hàng tại Việt Nam.

Nếu chưa rõ các ký hiệu trên phiếu thử, anh chị có thể đọc trước phần nhiệt trị, HHV, LHV và cơ sở độ ẩm để tránh lấy nhầm giá trị mẫu khô cho nhiên liệu đang nhận.

Than đá, củi gỗ và củi ép: cần kiểm tra gì khác nhau?

So sánh theo dữ liệu cần có, không xếp hạng nhiên liệu khi chưa đủ thông tin
Nhóm nhiên liệuĐiểm cần làm rõĐiều chưa nên kết luận
Than đáPhẩm cấp, nguồn gốc, cỡ hạt, nhiệt trị, độ ẩm, tro, lưu huỳnh và điều kiện giao.Không lấy một nhiệt trị hoặc giá “than cục 4” áp dụng cho mọi loại than.
Củi gỗCủi tươi hay khô, độ ẩm theo lô, kích thước, thành phần và tạp chất; có phù hợp cửa cấp liệu, buồng đốt không.Không suy năng lượng chỉ từ tên cây; không coi mọi gỗ phế liệu là gỗ sạch.
Củi ép mùn cưaNguồn nguyên liệu, độ ẩm, nhiệt trị, tro, độ bền và kích thước thực tế của thanh/trụ ép.Không mặc định củi ép trụ lớn giống viên nén nhỏ, hoặc cứ ép chặt là nhiệt trị mỗi kg tăng theo cùng tỷ lệ.

Với sinh khối, độ ẩm ảnh hưởng đến năng lượng hữu ích và yêu cầu của thiết bị. Một số hệ thống được thiết kế nhận nhiên liệu ẩm hơn hệ thống khác; vì vậy không chọn theo tiêu chí “khô nhất” một cách riêng lẻ. Xem ảnh hưởng của độ ẩm theo Forest Research.

Lấy giá ở đâu để không nhầm điều kiện?

Chúng tôi không ghép một bảng giá hiện tại với phiếu nhiệt trị cũ rồi gọi đó là mức chi phí chắc chắn. Nếu chưa có nhiệt trị và hiệu suất phù hợp, nên để rõ phần còn thiếu trước khi quyết định.

Công thức so sánh chi phí nhiên liệu

Bước 1: tính giá của năng lượng đầu vào

Chi phí năng lượng (đ/MJ) = giá nhiên liệu (đ/kg) ÷ nhiệt trị (MJ/kg).

Con số này giúp so sơ bộ nhiên liệu trên cùng cơ sở, nhưng chưa phản ánh phần nhiệt hệ thống thật sự sử dụng được.

Bước 2: tính chi phí cho nhiệt hữu ích

Chi phí nhiệt hữu ích (đ/MJ) = giá nhiên liệu ÷ (nhiệt trị × hiệu suất hữu ích).

Hiệu suất phải phù hợp với lò, nhiên liệu, mức tải và ranh giới tính toán; khi tính, viết 75% dưới dạng 0,75. Nhiệt trị và hiệu suất phải cùng cơ sở HHV hoặc LHV. Spirax Sarco giải thích quan hệ giữa nhiệt nhiên liệu, nhiệt hơi và hiệu suất.

Ví dụ: hai phương án giả định A và B

Toàn bộ số dưới đây chỉ để minh họa phép tính. A và B không đại diện cho một loại than, củi hay sản phẩm NAN cụ thể. Đơn giá giả định đã gồm vận chuyển và dỡ hàng, chưa gồm VAT; các nhiệt trị đều là LHV ở trạng thái nhận được. Hiệu suất là giả định theo cùng cơ sở LHV, không phải số đo công trình.

Ví dụ giả định — thay bằng số liệu lô hàng và hệ thống của anh chị
Thông sốPhương án APhương án B
Đơn giá1.600 đ/kg2.400 đ/kg
LHV nhận được12 MJ/kg16 MJ/kg
Hiệu suất hữu ích giả định75%80%
Chi phí năng lượng đầu vào1.600 ÷ 12 ≈ 133,33 đ/MJ2.400 ÷ 16 = 150 đ/MJ
Chi phí nhiệt hữu ích1.600 ÷ (12 × 0,75) ≈ 177,78 đ/MJ2.400 ÷ (16 × 0,80) = 187,50 đ/MJ

Trong bộ giả định này, A có chi phí nhiên liệu cho nhiệt hữu ích thấp hơn. Nhưng nếu hiệu suất của A thực tế chỉ là 60%, chi phí trở thành 1.600 ÷ (12 × 0,60) ≈ 222,22 đ/MJ, cao hơn B. Đây là lý do không nên chọn nhiên liệu chỉ từ giá hoặc một con số nhiệt trị.

Quy về một tấn hơi

Phần nhiệt hữu ích cần cho một tấn hơi phụ thuộc trạng thái hơi và nước cấp. Không có một mức 840.000 kcal cố định áp dụng cho mọi lò.

Cách xác định phần nhiệt này được trình bày theo từng bước trong bài công thức tính nhiệt lượng từ nước cấp đến hơi.

Chi phí nhiên liệu/tấn hơi = nhiệt hữu ích cần cho một tấn hơi × chi phí nhiên liệu/MJ hữu ích.

Nếu giả định cần 2.330 MJ hữu ích cho một tấn hơi, phương án A ở hiệu suất 75% cần khoảng 414.222 đ/tấn hơi; phương án B cần 436.875 đ/tấn hơi. Kết quả dùng số chưa làm tròn trong phép tính.

Đây mới là chi phí nhiên liệu theo giả định, chưa phải tổng giá thành hơi hay báo giá bán hơi. Còn phải xét điện, nước, nhân công, bảo dưỡng, tro xỉ, khí thải, chi phí tài sản và các khoản thực tế khác. Khi đã có số đo, cách đối chiếu trực tiếp là lấy tiền nhiên liệu tiêu thụ chia cho lượng hơi thực tế trong cùng kỳ.

Chọn nhiên liệu cho nhà máy: đừng bỏ qua phần việc đi kèm

Một phương án có tiền nhiên liệu thấp vẫn có thể chưa phù hợp nếu hệ thống không cấp liệu ổn định, mặt bằng không đủ hoặc phải cải tạo lớn. Trước khi thay đổi, anh chị nên đối chiếu thêm:

  • Thiết bị: khả năng đốt, cấp liệu và điều chỉnh theo tải; các thay đổi cần được đánh giá kỹ thuật, không tự thử một nhiên liệu ngoài thiết kế.
  • Kho và nhân sự: diện tích lưu trữ, bảo quản, thao tác bốc dỡ, cấp liệu và vệ sinh.
  • Môi trường: thành phần nhiên liệu, tro xỉ, hệ thống xử lý và kết quả đo kiểm; không lấy “ít khói nhìn thấy” làm bằng chứng đạt yêu cầu.
  • Nguồn cung: chất lượng giữa các chuyến, lịch giao, điều kiện thanh toán và phương án khi nguồn hàng thay đổi.
  • Tổng chi phí: tiền cải tạo, ngừng máy, bảo dưỡng và thời gian hợp tác; không chỉ số tiền mua nhiên liệu trong một ngày.

Khi dự toán cả năm, hãy dùng sản lượng thực tế hoặc giả định ghi rõ. Chẳng hạn, nếu bình quân thực sự dùng 4 tấn/giờ, 8 giờ/ngày và 300 ngày/năm thì sản lượng là 9.600 tấn/năm. Không lấy công suất tối đa ghi trên lò làm lượng hơi tiêu thụ cả năm.

Để lập bảng đầy đủ hơn, anh chị có thể xem cách tính chi phí sản xuất 1 tấn hơi. Nên so các phương án trên cùng phạm vi trước khi lựa chọn.

Nếu điều nhà máy muốn giải quyết không chỉ là mua nhiên liệu mà còn là người tổ chức vận hành và chịu trách nhiệm nguồn hơi, anh chị có thể tìm hiểu dịch vụ vận hành lò hơi và bán hơi công nghiệp của NAN. Hãy bắt đầu từ nhu cầu hơi, nhiên liệu đang dùng, lịch sản xuất, địa điểm và hiện trạng thiết bị; không mặc định thuê dịch vụ hay đổi nhiên liệu luôn rẻ hơn.

0977660890
Liên hệ