Chi phí đốt than đá cho lò hơi: Cách tính theo số liệu thực tế

gia-tha-da

Chi phí đốt than đá cho lò hơi nên được tính từ tiền than thực sự tiêu thụ chia cho lượng hơi thực đo trong cùng kỳ. Không có một mức kg than/tấn hơi dùng đúng cho mọi lò ghi tĩnh, ghi xích hay tầng sôi.

Nhật Anh Nguyễn hiện không kinh doanh than. Bài viết này giúp nhà máy tự kiểm lại chi phí nhiên liệu và các dữ liệu cần hỏi nhà cung cấp, không phải bảng chào bán than hoặc báo giá bán hơi của NAN.

Công thức tính chi phí than cho một tấn hơi

Mức tiêu hao than (kg/tấn hơi) = lượng than đã dùng trong kỳ (kg) ÷ lượng hơi thực đo cùng kỳ (tấn).

Chi phí than (đ/tấn hơi) = tiền than đã dùng trong kỳ (đ) ÷ lượng hơi thực đo cùng kỳ (tấn).

Với một lô có đơn giá thống nhất, tiền than bằng khối lượng đã dùng nhân giá đ/kg. Nếu dùng nhiều lô hoặc phối trộn nhiên liệu, tính tiền từng phần đã tiêu thụ rồi cộng lại; không gộp tất cả kg theo giá của một loại.

Ví dụ giả định: dùng 1.400 kg than, đo được 7 tấn hơi

Toàn bộ số dưới đây chỉ minh họa phép tính, không phải giá thị trường hoặc số liệu một công trình. Giả sử trong cùng một ca, hệ thống dùng 1.400 kg than và đồng hồ tại điểm giao cho sản xuất ghi 7 tấn hơi. Giá giả định là 3.000 đ/kg, đã gồm vận chuyển và dỡ hàng, chưa gồm thuế GTGT.

Ví dụ chỉ tính tiền than, chưa phải tổng giá thành hơi
Khoản tínhPhép tính và kết quả
Tiền than đã dùng trong ca1.400 × 3.000 = 4.200.000 đ
Mức tiêu hao than1.400 ÷ 7 = 200 kg/tấn hơi
Chi phí than4.200.000 ÷ 7 = 600.000 đ/tấn hơi, chưa VAT

Không dùng kết quả minh họa này để kết luận than đắt hơn hoặc rẻ hơn củi trong một ví dụ khác; cần số liệu trên điều kiện tương đương.

Con số 200 kg/tấn hơi thuộc bộ giả định trên, không phải định mức khuyến nghị. Không thể thay 7 tấn hơi thực đo bằng công suất danh định nhân số giờ chạy: lò không phải lúc nào cũng vận hành đủ tải.

Khi cộng nhiều ca, lấy tổng tiền than ÷ tổng lượng hơi của những ca đó. Không lấy trung bình đơn giản các mức đ/tấn nếu mỗi ca có sản lượng khác nhau. Nếu kỳ đo không có hơi đầu ra, ghi riêng chi phí đã phát sinh; phép chia theo tấn hơi chưa xác định, không phải bằng 0.

Đây là phép tính chi phí bình quân theo dữ liệu kỳ theo dõi. Không dùng ngay con số này để hứa mức tiết kiệm khi đổi công nghệ, vì phương án mới còn có đầu tư, tải vận hành và những chi phí khác.

Dùng giá than nào để dự toán cho nhà máy?

Nên dùng báo giá còn hiệu lực cho đúng lô than, đúng địa điểm và điều kiện giao hàng. Giá bình quân dùng cho sản xuất điện, giá tại mỏ hoặc giá nhập khẩu tại cảng không tự trở thành giá than đã về tới kho của anh/chị.

Trang giá than đá tham khảo và cách đọc báo giá tách rõ phạm vi số liệu thị trường. Bài chi phí này không sao chép lại bảng giá ấy hoặc coi giá lịch sử là giá hôm nay.

  • Nhận diện đúng hàng: tên/phẩm cấp than, nguồn gốc, cỡ hạt và thông tin phối trộn nếu có.
  • Đọc phiếu chất lượng: nhiệt trị, độ ẩm, tro, lưu huỳnh, cơ sở tính và mẫu đại diện cho lô. Không chỉ đọc một con số “kcal” thiếu đơn vị trên mỗi kg.
  • Thống nhất giá thực trả: giá đ/kg hay đ/tấn, vận chuyển, dỡ hàng, lượng cân thanh toán, thuế và thời hạn giá. Một tấn bằng 1.000 kg; không nhầm đơn giá giữa hai đơn vị.
  • Thống nhất cách xử lý chênh lệch: nếu chất lượng hoặc khối lượng khác thỏa thuận, cần có cách đối chiếu với nhà cung cấp.

Khi so hai báo giá, cùng một tên than chưa đủ để coi chất lượng tương đương. Nhiệt trị cao hay thấp và trạng thái mẫu khô hay nhận được phải đọc thống nhất. Anh/chị có thể xem phần HHV, LHV và cách đọc nhiệt trị nhiên liệu trước khi đưa các số ấy vào dự toán.

Vì sao mỗi lò có mức tiêu hao than khác nhau?

Tên kiểu lò cho biết một phần cấu hình, nhưng chưa đủ để quyết định lò sẽ dùng bao nhiêu than. Cần xét chất lượng nhiên liệu, nhu cầu hơi, điều kiện nước cấp và hiệu suất tại mức tải thực tế.

Tài liệu DOE về chi phí nhiên liệu tạo hơi (PDF) xác định các đầu vào gồm loại và giá nhiên liệu, hiệu suất, nhiệt độ nước cấp và áp suất hơi. Các bảng ví dụ trong tài liệu không phải định mức than cho lò của NAN hoặc mọi nhà máy Việt Nam.

Điều cần kiểm tra trước khi dùng một con số kg than/tấn hơi
Điều kiệnCần làm rõ
Nhiên liệuĐúng phẩm cấp, nhiệt trị và cơ sở độ ẩm của lô đang đốt, không dùng phiếu một lô khác.
Hơi đầu raÁp suất, trạng thái/chất lượng hơi và vị trí đo có tương đương giữa hai kỳ không?
Nước cấpNhiệt độ và điều kiện thu hồi nước ngưng có thay đổi không?
Tải và thời gianChạy ổn định hay nhiều lần khởi động, dừng chờ; kỳ đo có đại diện lịch sản xuất không?
Hệ thống và cách đoTình trạng thiết bị, điểm đo, sai số, lượng nhiên liệu tồn trong hệ thống đầu–cuối kỳ.

Vì thế, không nên lấy một mức 120 kg, 220 kg hay 300 kg than/tấn hơi rồi áp chung cho lò ghi tĩnh hoặc ghi xích. Nếu nhà chế tạo có định mức, hãy đọc kèm loại than, điều kiện thử, ranh giới tính và giới hạn áp dụng của đúng thiết bị.

Trường hợp chưa vận hành hoặc chưa có số đo, có thể lập ước tính kỹ thuật từ nhu cầu nhiệt, nhiệt trị và hiệu suất phù hợp. Đây là phương án sơ bộ cần chuyên môn kiểm tra, không thay cho số liệu nghiệm thu. Spirax Sarco giải thích quan hệ nhiệt đầu vào, nhiệt hơi và hiệu suất; không nên trộn hiệu suất theo HHV với nhiệt trị LHV hoặc ngược lại.

Bốn việc nên kiểm lại khi thấy tiền than tăng

  1. Giá và kỳ tính: tiền thanh toán mua than chưa chắc bằng tiền than đã dùng trong kỳ. Đối chiếu lượng xuất dùng và giá tương ứng, không chia tiền nhập cả tháng cho hơi của vài ngày.
  2. Khối lượng thực dùng: phân biệt tồn kho, than đã đưa vào hệ thống, phần chuyển đi và hao hụt. Không quy mọi chênh lệch cân thành nhiên liệu đã đốt.
  3. Sản lượng hơi: dùng đồng hồ tại điểm đo đã thống nhất và đúng đơn vị. Nếu chỉ có m³ nước cấp, giữ đúng chỉ tiêu đ/m³ nước; chưa đổi trực tiếp thành đ/tấn hơi.
  4. Điều kiện thay đổi: ghi chú lô than, tải, giờ chạy, khởi động và tình trạng bất thường. Chi phí tăng cùng lúc đổi than chưa tự chứng minh nguyên nhân chỉ nằm ở than.
Than cục và cân tại khu vực lò hơi trong tư liệu cũ
Tư liệu minh họa nhiên liệu tại khu vực lò. NAN hiện không kinh doanh than; ảnh không xác nhận chất lượng một lô hàng.

Nếu số liệu cho thấy chênh lệch chưa giải thích được, nên chuyển nhật ký cho bộ phận kỹ thuật đánh giá. Không tự tăng cấp than, đổi gió, thay chế độ xả đáy hoặc vô hiệu bảo vệ để cố đạt một mức tiêu hao trên mạng.

Để chuẩn bị cuộc trao đổi ấy, anh/chị có thể tham khảo phiếu ghi nhu cầu, số đo và các khoản chi cùng kỳ. Phần chưa có số đo nên ghi “chưa rõ”, không điền công suất thiết kế thay thế.

Ngoài tiền than, nhà máy còn phải tính khoản nào?

Tiền than thấp hơn chưa chắc tổng chi phí thấp hơn. Khi lập phương án dài hạn, cần xét nhân công, điện quạt và bơm, nước và hóa chất, bảo dưỡng, chi phí tài sản, thu gom tro xỉ và phần xử lý môi trường phù hợp.

Nếu tiền nhiên liệu đã phản ánh tổn thất qua lượng than thực dùng và hơi thực đo, không cộng thêm cùng một “tỷ lệ tổn thất nhiên liệu” lần nữa. Nhưng các khoản tiền riêng như vận chuyển tro xỉ hoặc bảo dưỡng vẫn phải ghi đúng phạm vi, tránh vừa bỏ sót vừa tính trùng.

Bài chi phí sản xuất một tấn hơi trình bày cách tập hợp đầy đủ hơn. Trước khi so với báo giá dịch vụ, hai bên phải cùng thống nhất khoản nào đã nằm trong đơn giá, khoản nào nhà máy còn chi trả.

Có nên đổi nhiên liệu hoặc thuê dịch vụ bán hơi?

Chưa nên quyết định chỉ từ giá than tăng hay một bảng xếp hạng nhiên liệu. Chuyển sang sinh khối có thể cần đánh giá lại thiết bị, cấp liệu, mặt bằng, nguồn cung, yêu cầu môi trường và vốn cải tạo. Nếu chưa đủ dữ liệu, ghi rõ những dữ liệu còn thiếu trong phương án còn hữu ích hơn một con số tiết kiệm chắc chắn.

Để so nhiên liệu trên cùng cơ sở, anh/chị có thể đọc so sánh than đá, củi gỗ và củi ép theo chi phí nhiệt hữu ích. Bài đó giúp đọc dữ liệu đầu vào, không thay cho đánh giá khả năng chuyển đổi của từng lò.

Nếu nhà máy cần cả người tổ chức vận hành và phương án nguồn hơi, có thể tìm hiểu dịch vụ vận hành lò hơi và bán hơi công nghiệp của NAN. Anh/chị nên gửi loại lò, lượng hơi hoặc số đo hiện có, nhiên liệu, lịch sản xuất, địa điểm và ảnh hệ thống; chúng tôi sẽ trao đổi trên dữ liệu ấy, không lấy riêng tiền than làm giá dịch vụ.

0977660890
Liên hệ