Yêu cầu cỡ hạt sau nghiền: ghi 0,1 mm thế nào cho rõ?

Mẫu cao lanh dạng bột trên lòng bàn tay sau khi sấy và nghiền

Yêu cầu cỡ hạt sau nghiền cần ghi rõ chỉ tiêu, đơn vị và cách kiểm. “Nghiền bột 0,1 mm” cho biết một mốc kích thước, nhưng chưa nói đó là chỉ tiêu nào và sẽ kiểm ra sao.

Trước khi giao nguyên liệu, doanh nghiệp nên thống nhất cách hiểu với xưởng và bên kiểm tra để báo giá, chạy thử và nghiệm thu cùng dựa trên một yêu cầu.

Bài này giúp bộ phận kỹ thuật, thu mua và chủ xưởng chuẩn bị thông tin khi thuê nghiền vật liệu công nghiệp, đặc biệt khi yêu cầu đang ghi bằng micron, mesh hoặc D50, D90.

Nội dung bài viết

1. Ghi 0,1 mm đã đủ chưa?

0,1 mm bằng 100 µm, thường đọc là 100 micromet hoặc 100 micron. Phép đổi đơn vị này chưa cho biết đang nói đến kích thước lỗ rây, một phân vị của phân bố hạt hay giới hạn hạt lớn nhất.

Ví dụ, “95% khối lượng lọt rây 100 µm” và “Dv90 không lớn hơn 100 µm” là hai yêu cầu khác nhau. Vì vậy, khi nhận một đơn hàng chỉ ghi “bột 0,1 mm”, câu cần hỏi tiếp là: kiểm bằng phương pháp nào và lấy kết quả nào để kết luận đạt?

Mẫu cao lanh dạng bột trên lòng bàn tay sau khi sấy và nghiền
Mẫu cao lanh sau sấy và nghiền tại NAN. Ảnh cho thấy trạng thái mẫu; cỡ hạt cần được xác nhận bằng phép kiểm phù hợp.

Hai ảnh trong bài thuộc cùng lô 200 tấn cao lanh ướt đầu vào mà NAN đã tiếp nhận. Khách yêu cầu sấy xuống dưới 5% độ ẩm rồi nghiền; mẫu vật liệu được gửi phân tích cỡ hạt. Khi mô tả công việc như vậy, cần tách yêu cầu đặt hàng với kết quả ghi trên phiếu của mẫu được kiểm.

2. Lọt rây, Dv50 và Dv90 khác gì?

Vật liệu sau nghiền gồm nhiều cỡ hạt. Một con số có thể mô tả một phần của phân bố, nhưng không tự nói hết phần hạt mịn và phần hạt thô còn lại.

Ba cách ghi chỉ tiêu thường gặp
Chỉ tiêuCách hiểuĐiều chưa thể kết luận
Tỷ lệ khối lượng lọt rây 100 µmPhần trăm khối lượng mẫu đi qua rây có lỗ danh nghĩa 100 µm trong phép thử đã thống nhất.Chưa mô tả đầy đủ các cỡ hạt nằm trong phần đã lọt.
Dv50 = 100 µmTrung vị theo thể tích: 50% thể tích hạt trong phân bố đo nằm dưới mốc này.Không có nghĩa tất cả hạt đều bằng hoặc nhỏ hơn 100 µm.
Dv90 = 100 µm90% thể tích hạt trong phân bố đo nằm dưới mốc này.Không phải kích thước hạt lớn nhất; vẫn có phần phân bố phía trên mốc này.

Chữ v trong Dv cho biết cơ sở thể tích. Nếu phiếu chỉ ghi D50 hoặc D90, hãy đọc phần phương pháp và cơ sở báo cáo trước khi diễn giải. D50 là trung vị của phân bố đang xét, không nên gọi đơn giản là trung bình cộng.

Có thể đối chiếu hướng dẫn đặt chỉ tiêu cỡ hạt của HORIBA và giải thích phân vị thể tích của Malvern Panalytical. Điểm cần giữ khi đặt hàng là ghi đúng đại lượng, thay vì dùng chung cụm “phần trăm hạt”.

3. Mesh có thay cho micron được không?

Không nên dùng riêng một số mesh để thay cho yêu cầu kích thước hạt. Mesh gắn với lưới/rây; kích thước lỗ còn liên quan đến cấu tạo lưới. Một bảng quy đổi chỉ có ý nghĩa khi biết bảng đó đang dùng quy ước nào.

Nếu khách yêu cầu “nghiền 100 mesh”, nên hỏi thêm kích thước lỗ danh nghĩa bằng µm, tiêu chuẩn rây và tỷ lệ cần lọt. 100 mesh không đồng nghĩa với 100 µm.

Thông tin rây thử nghiệm RETSCH cho thấy lỗ danh nghĩa, đường kính sợi và dung sai là những thông số cần phân biệt. Với đơn hàng thực tế, thông tin nhận diện rây giúp hai bên đối chiếu rõ hơn một lời mô tả “mịn theo lưới”.

4. Vì sao hai mẫu hoặc phiếu có thể khác nhau?

Trước khi kết luận chất lượng lô nghiền thay đổi, cần xem hai kết quả có cùng điều kiện hay không. Những điểm nên đối chiếu gồm:

  • Mẫu thuộc lô nào: mã lô, thời điểm và vị trí lấy mẫu có được ghi lại không?
  • Mẫu có đại diện không: cách lấy và chia mẫu có phù hợp với vật liệu, quy mô lô và phép thử không?
  • Trạng thái mẫu: mẫu còn ẩm, vón cụm hay đã được chuẩn bị/phân tán theo quy trình nào?
  • Cách đo và báo cáo: rây hay laser; cơ sở khối lượng hay thể tích; điều kiện phép thử có giống nhau không?

Theo nguyên tắc phân tích bằng rây của RETSCH, việc chuẩn bị mẫu và các tham số sàng ảnh hưởng tới kết quả. Vì thế, không nên đổi cách chuẩn bị mẫu giữa lần chạy thử và lần nghiệm thu mà chưa thống nhất.

Nếu nguyên liệu đầu vào còn ẩm hoặc vón cục, doanh nghiệp cần trao đổi cả việc đánh giá công đoạn sấy trước khi nghiền. Mức ẩm cần đạt phải dựa vào vật liệu và công đoạn sử dụng tiếp theo; không lấy yêu cầu của một lô cao lanh áp cho mọi loại bột.

5. Hai ví dụ ghi yêu cầu cỡ hạt

Các con số dưới đây chỉ để minh họa cách viết, không phải tiêu chuẩn mặc định hoặc cam kết gia công của NAN. Doanh nghiệp cần chọn chỉ tiêu phù hợp với mục đích sử dụng.

Ví dụ A: kiểm bằng rây và cân

“Yêu cầu ít nhất 95% khối lượng mẫu lọt qua rây có lỗ danh nghĩa 100 µm.” Cùng với câu này, hai bên cần chốt nhận diện/tiêu chuẩn rây, cách chuẩn bị mẫu, điều kiện thử và kế hoạch lấy mẫu nghiệm thu.

Ở ví dụ này, tỷ lệ 95% nói về khối lượng. Nó không có nghĩa mọi hạt đều lọt rây, cũng không tự xác định Dv90 của một phép đo laser.

Ví dụ B: kiểm phân bố bằng nhiễu xạ laser

“Yêu cầu Dv90 ≤ 100 µm, báo cáo theo thể tích, đo bằng nhiễu xạ laser theo quy trình đã thống nhất.” Cần làm rõ cách lấy mẫu, chuẩn bị/phân tán mẫu và thông tin phương pháp để bên kiểm tra có thể thực hiện nhất quán.

Nếu công đoạn sau còn yêu cầu về phần hạt rất mịn hoặc hạt thô, hãy ghi thêm chỉ tiêu tương ứng sau khi đánh giá. Không tự bổ sung nhiều giới hạn chỉ vì muốn bản yêu cầu trông đầy đủ.

6. Tám thông tin nên gửi cho xưởng

Doanh nghiệp có thể dùng bảng dưới đây để chuẩn bị trao đổi. Những mục chưa rõ nên được đánh dấu để cùng làm rõ trước khi xác nhận phương án.

Phiếu chuẩn bị yêu cầu nghiền vật liệu
Thông tinNội dung cần cung cấp
1. Vật liệu và mục đíchTên vật liệu, thành phần đã biết; bột dùng cho công đoạn nào.
2. Trạng thái đầu vàoKích thước cục, độ ẩm nếu có số đo, tình trạng vón; ảnh/video thực tế.
3. Lô và khối lượngKhối lượng mỗi đợt, mã lô, nguyên liệu có đồng nhất giữa các đợt không.
4. Chỉ tiêu đầu raMốc kích thước, tỷ lệ hoặc phân vị, đơn vị và giới hạn cần đạt.
5. Phương pháp kiểmRây hay laser; cơ sở báo cáo; yêu cầu của phòng thử nghiệm hoặc bên nhận hàng.
6. Mẫu thử và nghiệm thuCách lấy/chia mẫu, thời điểm kiểm, bên lấy mẫu và cách lưu mẫu đối chứng.
7. Phiếu và đối soátPhiếu phân tích cũ nếu có; bên thực hiện phép thử, cách trao đổi khi kết quả khác nhau.
8. Giao nhậnThời gian dự kiến, quy cách bao, địa điểm giao nhận và yêu cầu bảo quản liên quan.
Mẫu cao lanh dạng cục trên lòng bàn tay trước khi sấy và nghiền
Mẫu cao lanh trước sấy và nghiền, cùng lô nguyên liệu với ảnh đầu bài. Mô tả đúng đầu vào giúp xưởng đánh giá các công đoạn cần thực hiện.

Với dịch vụ nghiền bột khô công nghiệp, NAN đánh giá khả năng xử lý theo mẫu và yêu cầu thực tế trước khi thống nhất phạm vi, phương án và báo giá.

7. Chưa biết chọn chỉ tiêu thì làm thế nào?

Anh/chị có thể bắt đầu bằng yêu cầu của công đoạn sử dụng bột: cần phối trộn, tạo hình hay đưa vào quy trình nào, và vấn đề của mẫu hiện tại là gì. Nếu đã có mẫu mong muốn hoặc phiếu phân tích trước đây, nên gửi kèm thay vì tự chọn một số D50/D90.

Nhật Anh Nguyễn tiếp nhận thông tin vật liệu, khối lượng, tình trạng đầu vào và yêu cầu đầu ra để trao đổi phương án phù hợp. Chỉ tiêu và cách kiểm cần được làm rõ trước khi xác nhận phương án gia công.

Gửi thông tin vật liệu cần nghiền

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0977660890
Liên hệ