Thuê sấy hay tự đầu tư dàn sấy nên được so trên cùng loại vật liệu, độ ẩm đầu vào–đầu ra, khối lượng và thời hạn cần hàng. Chỉ đặt tiền gia công cạnh tiền nhiên liệu tự đốt sẽ bỏ sót nhiều khoản. Khi so chi phí bình quân cho nhiều lô, cũng cần nêu rõ cách phân bổ tiền đầu tư; số tiền phải chuẩn bị để mua máy là một phần cần xem riêng.
Bài này giúp nhà máy lập hai phương án có thể đối chiếu: cần hỏi gì trước khi lấy giá, những khoản nào phải tính riêng, và vì sao sản lượng ít hơn dự kiến có thể làm chi phí mỗi tấn tăng lên.
Không có một mốc “bao nhiêu tấn thì nên mua máy” áp dụng cho mọi nhà máy. Quyết định còn phụ thuộc vật liệu, mức giảm ẩm, lịch hàng, quãng đường vận chuyển và khả năng tổ chức vận hành. Chưa có số liệu thì ghi “chưa có”, đừng điền bằng 0.
1. So cùng yêu cầu trước khi so đơn giá
Một báo giá tính theo tấn nguyên liệu ướt không thể so trực tiếp với giá theo tấn thành phẩm. Hai phương án cũng chưa tương đương nếu một bên chỉ sấy, còn bên kia đã gồm nghiền và đóng bao.
| Thông tin | Cần ghi rõ |
|---|---|
| Vật liệu và trạng thái | Loại vật liệu; dạng bột, hạt, cục hoặc bết dính; ảnh và kích thước cục lớn. Ghi các giới hạn về nhiệt, lẫn tạp hoặc chất lượng nếu có. |
| Độ ẩm và đầu ra | Độ ẩm đầu vào nếu đã đo; mức cần đạt sau sấy; cách lấy mẫu và kiểm. Ghi rõ độ ẩm tính trên khối lượng ướt hay khô, và giữ cùng cơ sở khi đối chiếu. Không dùng cảm giác “khô tay” thay yêu cầu có số đo. |
| Khối lượng và lịch hàng | Tấn đầu vào mỗi đợt, số đợt/tháng, các tháng có hàng và ngày cần nhận lại. Tách lượng đã có đơn hàng với lượng đang dự kiến. |
| Công đoạn đi kèm | Chỉ sấy hay thêm phá cục, nghiền, sàng, đóng bao; quy cách bao và bên cung cấp bao bì. |
| Giao nhận | Địa điểm giao/nhận, bên lo xe và bốc dỡ, cơ sở cân tính tiền, phạm vi kiểm chất lượng và cách xử lý lô chưa đạt thỏa thuận. |
Phần cân, bì và khối lượng tính phí cần thống nhất trước khi giao. Có thể xem riêng cách đối soát khối lượng sấy gia công để tránh so trực tiếp giá theo nguyên liệu đầu vào với giá theo sản phẩm sau sấy.
2. Tính đủ chi phí thuê sấy và tự đầu tư
Nên tách hai việc: tiền cần chuẩn bị ban đầu và chi phí xử lý cùng một lượng hàng trong cùng kỳ. Ví dụ, cùng đánh giá lượng nguyên liệu dự kiến xử lý trong một năm. Khoản nào đã nằm trong báo giá trọn gói thì đánh dấu “đã gồm”, không cộng thêm lần nữa.

| Nhóm khoản | Thuê sấy gia công | Tự đầu tư và vận hành |
|---|---|---|
| Chuẩn bị ban đầu | Mẫu thử, chuẩn bị hàng và khoản đặt trước nếu có thỏa thuận. Khoản đặt trước được trừ vào tiền công thì không tính thêm thành một chi phí mới. | Giá máy, nguồn nhiệt và thiết bị phụ trợ cần thiết; vận chuyển, xây lắp, đấu nối, chạy thử. Hỏi rõ phần nào có sẵn, phần nào chưa nằm trong giá. |
| Xử lý nguyên liệu | Phí gia công cho đúng lượng và yêu cầu đã chốt; đơn vị tính theo báo giá thực. | Nhiên liệu, điện, người vận hành, vật tư và bảo dưỡng cần cho lượng hàng đó. Dùng dữ liệu chạy phù hợp hoặc dự toán có điều kiện rõ. |
| Vận chuyển, bốc dỡ | Cước đưa nguyên liệu đi và nhận sản phẩm về; cân, bốc dỡ, chờ xe hoặc lưu hàng nếu phát sinh ngoài gói. | Di chuyển và cấp liệu nội bộ, bốc dỡ, cân và khu chứa hàng. Có máy sấy chưa có nghĩa đã có đủ các khâu này. |
| Công đoạn sau sấy | Nghiền, sàng, kiểm chất lượng, bao bì và đóng gói nếu cần nhưng chưa gồm trong phí. | Tự làm hoặc tiếp tục thuê ngoài các công đoạn tương ứng. So đến cùng trạng thái sản phẩm cần bàn giao. |
| Khoản vẫn phát sinh khi ít hàng | Mức tối thiểu hoặc phí giữ lịch chỉ ghi khi báo giá/hợp đồng thực sự có. | Nhân sự duy trì, mặt bằng, bảo quản máy và các khoản cố định khác theo thực tế doanh nghiệp. |
| Khi kế hoạch thay đổi | Chi phí và thời gian khi đổi lịch, đổi yêu cầu, phải chở lại hoặc xử lý thêm — theo trách nhiệm đã thống nhất. | Dừng máy, sửa chữa, thay thế, thiếu người hoặc phải gửi hàng ra ngoài. Chưa có số thì ghi tình huống cần dự phòng. |
Tiền mua máy không nên bị tính hai lần. Nếu bảng đang ghi toàn bộ tiền đầu tư tại thời điểm mua, không cộng khấu hao như một lần chi tiền mua máy nữa. Nếu tính chi phí bình quân có phần phân bổ đầu tư, cần ghi cách phân bổ và không cộng lại nguyên giá vào chính tổng đó. Phần thuế và chi phí vốn nên được bộ phận kế toán xác định trên cùng cơ sở cho hai phương án.
Cách tách khoản đầu tư, vận hành và thời điểm chi có thể tham khảo hướng dẫn chi phí vòng đời của NIST (tiếng Anh). Đây là nguồn phương pháp so sánh, không phải quy định kế toán Việt Nam.
3. Ít hàng làm chi phí mỗi tấn thay đổi thế nào?
Trước khi chọn máy, hãy ghi lượng hàng theo từng tháng hoặc từng đợt. Công suất ghi trên thiết bị không thay cho số đơn hàng thực tế, cũng không bảo đảm máy sẽ chạy đủ ngày trong năm.
Ví dụ giả định để thấy ảnh hưởng của sản lượng — không phải giá NAN, giá máy hoặc tổng chi phí sấy.
Giả sử có một khoản chi cố định 120 triệu đồng/năm. Giữ cùng vật liệu, điều kiện ẩm vào–ra và giả định dàn sấy đáp ứng được cả ba mức lượng dưới đây:
| Lượng trong năm | Phép tính | Khoản cố định/tấn |
|---|---|---|
| 300 tấn/năm | 120.000.000 ÷ 300 | 400.000 đồng/tấn |
| 600 tấn/năm | 120.000.000 ÷ 600 | 200.000 đồng/tấn |
| 1.200 tấn/năm | 120.000.000 ÷ 1.200 | 100.000 đồng/tấn |
Bảng chỉ chia một khoản cố định, chưa cộng nhiên liệu, điện và các khoản khác. Không thể lấy các kết quả này làm đơn giá tự sấy, điểm hòa vốn hoặc kết luận nên mua máy.
Với số liệu của nhà máy, nên tính riêng ba mức: ít hàng, dự kiến và cao điểm. Tính lại số chuyến xe, số ca và khoản phát sinh ở mỗi mức; không mặc định mọi chi phí đều tăng đều theo số tấn. Nếu phương án chỉ có lợi khi máy luôn đầy tải, cần xem lại mức tin cậy của lượng hàng dự kiến.
4. Giá thấp chưa đủ: phải làm được vật liệu và kịp lịch
Hỏi rõ điều kiện của thông số “tấn/giờ”
Cần biết đó là lượng đầu vào hay đầu ra, ở độ ẩm nào, với vật liệu và yêu cầu thành phẩm nào. Đất vón cục, bột ướt và dăm gỗ không thể được mặc định có cùng điều kiện sấy chỉ vì cùng khối lượng.
Khi chưa có dữ liệu phù hợp, nên thống nhất thử vật liệu và ghi lại điều kiện thử, lượng cấp, kết quả ẩm, chất lượng sản phẩm và những giới hạn khi áp dụng cho lô lớn. Một mẫu đạt không tự xác nhận toàn bộ các lô có đầu vào khác nhau.
Ví dụ về cách kết hợp thử quy trình với kiểm độ ẩm, cỡ hạt và khối lượng riêng được trình bày tại trung tâm thử nghiệm sấy của GEA (tiếng Anh). Nguồn này minh họa phương pháp kiểm, không mô tả trang thiết bị của NAN.
Kiểm cả đường đi của hàng và người vận hành
- Nếu thuê: nơi gia công có nhận đúng vật liệu và yêu cầu không; lịch nhận–trả đã thống nhất chưa; nguyên liệu chờ ở đâu; ai lo xe, bốc dỡ và xử lý khi lô chưa đạt?
- Nếu tự sấy: có mặt bằng, nguồn nhiệt, điện và người vận hành phù hợp chưa; các hạng mục cần thiết để đưa máy vào hoạt động đã được xác định chưa; khi máy dừng thì lượng hàng đi đâu?

5. Khi nào cân nhắc thuê, tự đầu tư hoặc kết hợp?
Thuê gia công đáng cân nhắc khi lượng hàng chưa ổn định
Với đơn hàng theo đợt, vật liệu đang thử hoặc khi chưa đủ mặt bằng và nhân lực, thuê có thể giúp doanh nghiệp kiểm chứng nhu cầu trước khi đầu tư lớn. Điều kiện là nơi gia công đáp ứng đầu ra, lịch giao nhận và tổng chi phí phù hợp; quãng đường xa hoặc nhiều lần bốc dỡ có thể làm phương án này kém thuận lợi.
Tự đầu tư đáng xem xét khi nhu cầu dài hạn đủ rõ
Nếu có lượng hàng đều, cần chủ động tiến độ và đã có khả năng tổ chức vận hành, nhà máy nên lấy phương án thiết bị cùng dữ liệu thử phù hợp để tính đầy đủ. Sản lượng lớn là một yếu tố, chưa đủ để khẳng định tự sấy rẻ hơn.
Có thể giữ máy cho lượng ổn định và thuê phần tăng đột biến
Nhà máy đã có máy nên đánh giá phần việc máy hiện hữu làm được, chi phí tiếp tục sử dụng, sửa chữa và phần vượt khả năng. Có thể so thêm phương án kết hợp, nhưng lịch và khả năng nhận bên ngoài phải được xác nhận; không mặc định lúc cao điểm luôn có chỗ thuê.
6. Mẫu thông tin để lấy hai phương án so sánh
Có thể sao chép mẫu dưới đây và gửi cùng một nội dung cho bên gia công và bên tư vấn thiết bị. Những dòng chưa biết nên giữ là “chưa có số liệu” để được làm rõ, thay vì ước lượng như đã đo.
Sau khi nhận phản hồi, lập hai cột thuê gia công / tự sấy và đối chiếu theo mục 2. Chỉ cộng tổng khi các khoản đã cùng phạm vi và kỳ tính; khoản chưa có số cần được ghi riêng, không để một tổng tạm thời trông như đã đầy đủ.
7. Trao đổi nhu cầu sấy với NAN
NAN nhận nguyên liệu do khách đưa đến xưởng để gia công, tính phí theo trọng lượng cân đầu vào; yêu cầu độ ẩm đầu ra và phạm vi công việc được trao đổi theo từng loại nguyên liệu.
Chẳng hạn, lô cao lanh 200 tấn đầu vào ướt có cả sấy, nghiền và đóng bao. Đây là ví dụ cần ghi rõ chuỗi công đoạn khi so phương án, không phải cơ sở suy ra giá hoặc hiệu quả đầu tư cho một lô khác.
Gửi loại vật liệu, ảnh, lượng mỗi đợt, lịch phát sinh, yêu cầu đầu ra và địa điểm giao nhận để NAN xem xét khả năng gia công. Nếu đang cân nhắc tự đầu tư, nên giữ cùng bộ yêu cầu này khi lấy phương án thiết bị.
Nội dung: Công ty Cổ phần Chất đốt Công nghiệp Nhật Anh Nguyễn. Ảnh từ thư viện NAN; các ví dụ giả định đã được ghi rõ ngay cạnh phép tính. Rà soát nội dung ngày 15/10/2026.
